Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

Nghiên cứu và sử dụng chế phẩm sinh học từ vi khuẩn đối kháng để kiểm soát nấm hại cây trồng

che pham sinh hoc, che pham sinh hoc vuon sinh thai, che pham vuon sinh thai, che pham men vi sinh, men vi sinh hoat tinh, men u vi sinh, dem lot len men, dem lot sinh hoc, dem lot sinh thai, phan vi sinh, phan sinh hoc, phan sinh hoc wehg, che pham balasa
Trên thế giới, nấm Rhizoctonia solani Kühn và Fusarium gây thiệt hại nghiêm trọng đối với năng suất của nhiều loại cây trồng như cây ngũ cốc (lúa, ngô, khoai tây), cây rau (lạc, đậu đỗ, cà chua, cải bắp, xà lách), cây ăn quả và cây công nghiệp (bông). Nấm gây ra các triệu chứng thối đen rễ, lở cổ rễ, thối gốc thân, thối thân, khô vằn, thối lá. Nấm bệnh gây thiệt hại lên tới 11,6% tổng sản lượng nông nghiệp. Ở nước ta, hàng năm sản lượng nông nghiệp thất thu hàng ngàn tỷ đồng do nấm bệnh gây ra trên một số cây trồng quan trọng như ngô, khoai tây, đậu tương, đỗ. Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, chế phẩm sinh học có nguồn gốc từ vi khuẩn đối kháng ngày càng được quan tâm sử dụng để diệt nấm gây hại cây. Một số chủng vi khuẩn đối kháng như Burkholderia, Pseudomonas, Bacillus đã và đang được quan tâm nghiên cứu vì chúng tổng hợp một số chất ngoại bào với khả năng ức chế sự nẩy mầm và phát triển của nấm bệnh F. oxysporum và R. solani.

Vi khuẩn đối kháng Bacillus, Burkholderia và Pseudomonas được phân lập từ đất, rễ cây, có khả năng kiểm soát hiệu quả đối với nấm Pythium, R. solani và F. oxysporum… gây bệnh thối rễ, thối thân ở cây đậu tương, cây đỗ, rau diếp, cây trạng nguyên, cây khoai tây. Biện pháp chủ yếu để diệt nấm bệnh hiện nay là dùng thuốc diệt nấm có nguồn gốc hóa học. Tuy nhiên nếu dùng nhiều loại thuốc hóa học với liều lượng cao trong thời gian dài sẽ làm mất cân bằng trong quần thể vi sinh vật đất có ích, tạo môi trường bất lợi đối với các sinh vật có ích phát triển, và tạo điều kiện để nấm bệnh, các loài côn trùng có hại kháng thuốc hơn, đồng thời cũng tiêu diệt các loài thiên địch có ích. Dư lượng thuốc diệt nấm, thuốc trừ sâu hóa học còn lại trên sản phẩm nông nghiệp và trên đất sẽ làm ô nhiễm vào nguồn nước ngầm, gây ra tác hại nghiêm trọng đối với sức khỏe của người và vật nuôi. Ở một số nước phát triển, thuốc diệt nấm có nguồn gốc hóa học bị hạn chế hoặc cấm sử dụng.

Chế phẩm sinh học diệt nấm có nguồn gốc từ vi khuẩn đối kháng có tác dụng tích cực đối với nông nghiệp, ưu việt hơn so với việc dùng thuốc hóa học. Sử dụng chế phẩm sinh học có nguồn gốc từ vi khuẩn đối kháng để diệt nấm gây hại trên cây trồng sẽ mang lại những lợi ích lâu dài cho người sản xuất như: làm tăng năng suất của cây trồng, giảm chi phí đầu tư, làm đất không bị bạc màu, thân thiện với môi trường sinh thái, không ảnh hưởng đến sức khỏe của người và vật nuôi, gióp phần quan trọng trong việc phát triển nền nông nghiệp hữu cơ bền vững và hiệu quả. Người sản xuất hoàn toàn có thể yên tâm sử dụng chế phẩm sinh học từ vi sinh vật để kiểm soát nấm R. solani và F. oxysporum gây hại cây trồng.

Trong bài viết này chúng tôi xin giới thiệu những kết quả nghiên cứu bước đầu trong việc sử dụng chế phẩm sinh học (tế bào, dịch ngoại bào) từ vi khuẩn đối kháng Burkholderia, Pseudomonas và Bacillus có tác dụng kiểm soát hiệu quả nấm R.solani gây hại cây rau diếp và F. oxysporum gây hại cây cà chua trong nhà lưới. Những tác dụng tích cực của tế bào và dịch ngoại bào của vi khuẩn đối kháng đến sinh trưởng của cây trồng, và hệ sinh vật xung quanh bộ rễ cũng được phát hiện.

Ảnh hưởng của tế bào và dịch ngoại bào của vi khuẩn đối kháng đến sinh trưởng của cây trồng trong buồng nuôi climate chamber

Tế bào của các chủng vi khuẩn đối kháng Burkholderia, Pseudomonas và Bacillus tác dụng tích cực đến sinh trưởng của rau diếp và cà chua. Sau khi hạt rau diếp được xử lý với tế bào vi khuẩn đối kháng, hạt nẩy mầm tốt, cây sinh trưởng và phát triển tốt hơn so với lô không được xử lí. Sau 40 ngày xử lí, sinh khối tươi và khô của thân, rễ ở rau diếp đều tăng so với đối chứng (P <0,05). Một kết quả tương tự, khi hạt cà chua được xử lí với tế bào Burkholderia và Bacillus rồi đem gieo, cây phát triển cho số lượng lá/cây, khối lượng tươi và khô của cây cao hơn hoặc tương đương so với đối chứng. 

Cả hạt rau diếp, cà chua sau khi xử lí với tế bào vi khuẩn đối kháng, đều cho khối lượng tươi và khô của bộ rễ cà chua, rễ rau diếp đều cao hơn so với lô đối chứng. Tế bào chủng Burkholderia và Bacillus có khả năng cộng sinh trong hệ rễ, chiếm chỗ của nấm bệnh trong hệ rễ, đồng thời tiết ra hoạt chất ức chế nấm bệnh phát triển, (trên 106 khuẩn lạc/cm rễ rau diếp, trên 2,5x106 khuẩn lạc/cm rễ cà chua). Đối với lô thí nghiệm cà chua và rau diếp được xử lí bởi dịch ngoại bào của chủng vi khuẩn đối kháng chọn lọc, cây rau diếp và cà chua sinh trưởng và phát triển bình thường. Số lượng lá/cây, trọng lượng tươi, trọng lượng khô, sinh khối bộ rễ của cây đều không bị giảm so với đối chứng.

Kiểm soát nấm R. solani, F. oxysporum hại cây trồng trong nhà lưới bằng tế bào chủng vi khuẩn đối kháng

Điều kiện trong nhà lưới, cây rau diếp bị gây nhiễm bởi nấm R. solani, sau đó được xử lí với tế bào Burkholderia, Bacillus vàPseudomonas. Kết quả cho thấy nấm R. solani bị kiểm soát 75% so với lô rau không được xử lí với tế bào. Đặc biệt sinh khối tươi và khô, số lượng lá/cây của lô thí nghiệm được xử lí cao hơn so với lô không được xử lí (P < 0,05). Trên cây cà chua bị gây nhiễm bởi nấm F. oxysporum, sau đó được xử lí với tế bào của Burkholderia và Bacillus. Nấm F. oxysporum bị kiểm soát 67% đến 75%. Sinh khối tươi, khô của cây cà chua, số lượng lá/cây, chiều cao cây ở lô thí nghiệm cao hơn so với lô không được xử lí (P <0,05). Như vậy, tế bào chủng Burkholderia, Bacillus không những kiểm soát hiệu quả nấm bệnh R.solani và F. oxysporum mà còn có ảnh hưởng tích cực đến sinh trưởng và phát triển của rau diếp, khoai tây trong nhà lưới. Hơn nữa, đối với lô thí nghiệm được xử lí với tế bào cũng như dịch ngoại bào của chủng vi khuẩn đối kháng, mật độ và chủng loại vi sinh vật hữu ích trong đất xung quanh bộ rễ của cà chua, rau diếp không bị giảm so với đối chứng.
che pham sinh hoc, che pham sinh hoc vuon sinh thai, che pham vuon sinh thai, che pham men vi sinh, men vi sinh hoat tinh, men u vi sinh, dem lot len men, dem lot sinh hoc, dem lot sinh thai, phan vi sinh, phan sinh hoc, phan sinh hoc wehg, che pham balasa
A. R.solani hại rau diếp 

B. Rau diếp nhiễm nấm R. solani được xử với dịch ngoại bòa chủng vi khuẩn đối kháng chọn lọc.

C. Rau diếp nhiễm nấm R.solani được xử với tế bào chủng vi khuẩn đối kháng chọn lọc.

che pham sinh hoc, che pham sinh hoc vuon sinh thai, che pham vuon sinh thai, che pham men vi sinh, men vi sinh hoat tinh, men u vi sinh, dem lot len men, dem lot sinh hoc, dem lot sinh thai, phan vi sinh, phan sinh hoc, phan sinh hoc wehg, che pham balasa
D. Sợi nấm R.solani bị ức chế phát triển bởi chủng vi sinh vật đối kháng chọn lọc chọn lọc.

E. Sợi nấm F.oxysporum bị ức chế phát triển bởi chủng vi sinh vật đối kháng chọn lọc.

Kiểm soát nấm R. solani, F. oxysporum gây bệnh cây trồng bằng dịch ngoại bào của chủng vi khuẩn đối kháng

Vi khuẩn đối kháng Pseudomonas sinh tổng hợp chất ngoại bào syringomycin, syringostatin, syringotoxin, cepacin A, cepacin B, phenazine và pyrrolnitrin; Burkholdria sinh tổng hợp chất cepacin và pyrrolnitrin; Bacillus sinh tổng hợp iturin, surfacin, bacilysin, bacillomycin và mycobacillin có hoạt tính diệt nấm R. solani, F. oxysporum gây bệnh thối rễ, thối thân ở nhiều loại cây trồng quan trọng. Trong điều kiện in vitro trên môi trường thạch, dịch ngoại bào của chủng vi khuẩn đối kháng Burkholderia, Pseudomonas và Bacillus diệt 70-90% nấm F. oxysporum, và diệt 75-81% nấm R. solani. 

Thử nghiệm trong nhà lưới, dịch ngoại bào của các chủng vi khuẩn đối kháng Burkholderia, Pseudomonas và Bacillus làm giảm 67-75% thiệt hại gây ra bởi nấm R. solani trên rau diếp. Dịch ngoại bào của các chủng vi khuẩn đối kháng cũng có khả năng kiểm soát nấm bệnh ở mức độ khác nhau (P<0,001), không ảnh hưởng tiêu cực đến nẩy mầm của hạt (cà chua, rau diếp), không ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng, phát triển của cây. Khối lượng tươi, khối lượng khô của thân-lá, và số lượng lá/cây cao hơn so với đối chứng. Bộ rễ của rau diếp, cà chua thì phát triển tốt, sinh khối tươi và khô cao hơn so với đối chứng. 

Đối với nấm F. oxysporum gây hại trên cà chua, dịch ngoại bào chủng vi khuẩn đối kháng Burkholderia, Pseudomonas vàBacillus làm giảm 67-75% thiệt hại do nấm gây ra. Khối lượng tươi của thân và lá của cây cà chua ở lô thí nghiệm cao hơn so với đối chứng. Chiều cao cây, số lượng lá/cây ở lô xử lí với dịch ngoại bào cao hơn so với đối chứng. Quần thể vi sinh vật có ích trong đất xung quanh rễ cũng không bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch ngoại bào.

Như vậy, triển vọng sử dụng chế phẩm sinh học (tế bào, dịch ngoại bào) từ vi khuẩn đối kháng để diệt nấm gây hại cây trồng là rất lớn, ưu việt và hiệu quả hơn so với biện pháp hóa học. Việc sử dụng chế phẩm dạng này sẽ gióp phần làm tăng năng suất cây trồng, giảm ô nhiễm môi trường, gióp phần quan trọng vào việc phát triển nền nông nghiệp bền vững.

Nguồn: Phòng Công nghệ Sinh học Enzyme, Viện Công nghệ Sinh học

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012

Chế Phẩm Sinh Học Vườn Sinh Thái Cho Đậu Tương Ở Thái Bình

che pham sinh hoc vuon sinh thai dung trong chan nuoi; che pham sinh hoc vuon sinh thai cho cay an qua, che pham sinh hoc; che pham sinh hoc vuon sinh thai; che pham vuon sinh thai; che pham men vi sinh; men vi sinh hoat tinh; men u vi sinh; phan sinh hoc; phan vi sinh;


Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2012

Sử Dụng Chế Phẩm Sinh Học Balasa N01 Làm Đệm Lót Chuồng Trong Chăn Nuôi Vịt

SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC BALASA-N01 LÀM ĐỆM LÓT CHUỒNG TRONG CHĂN NUÔI VỊT 

I. Sử dụng chế phẩm để sử lý đệm lót lên men sẽ đem lại các lợi ích sau: 

1. Làm tiêu hết phân do đó mùi hôi thối, khí độc trong chuồng nuôi hầu như không còn, tạo môi trường sống tốt không ô nhiễm. Vì vậy: 

- Cải thiện môi trường sống cho người lao động. 

- Tạo cơ hội phát triển chăn nuôi ngay ở nơi dân cư đông đúc . 

2. Sẽ không phải thay độn lót trong suốt quá trình nuôi do đó giảm tối đa nhân công dọn chuồng và nguyên liệu làm độn lót. 

3. Giảm rõ rệt tỷ lệ mắc bệnh đặc biệt là bệnh tiêu chẩy ở và bệnh hen. Giảm tỷ lệ chết và đào thải giảm. Vì vậy giảm công và chi phí thuốc trong việc chữa trị bệnh . 

4 . Tăng chất lượng đàn vịt và chất lượng của sản phẩm. Úm trên đệm lót sẽ cho vịt con khỏe mạnh, đồng đều, ít bị bệnh và tăng trưởng tốt sau này. Vịt nuôi trên nền đệm lót không bị thối bàn chân, không bị què chân, lông tơi mượt và sạch. Thịt chắc, thơm ngon, giảm tồn dư kháng sinh. 

5. Hạch toán chung người chăn nuôi sẽ lợi như môi trường không ô nhiễm; Giảm được công việc nặng nhọc trong việc thường xuyên thay độn lót; Chi phí chung sẽ ít hơn nên thu nhập tăng lên . 

II. KỸ THUẬT LÀM ĐỆM LÓT CHUỒNG NUÔI VỊT: 

Chuồng có nền được láng xi măng hoặc lát gạch. Nếu chuồng làm mới thì nền chuồng là đất nện, không láng lát sẽ tốt và giảm chi phí xây dựng. 

Do mùn cưa có khả năng hút ẩm tốt nên đệm lót mùn cưa hoặc kết hợp với trấu thường áp dụng để nuôi vịt thịt hoặc vịt đẻ có thời gian nuôi kéo dài. 

Thực hiện làm đệm lót lên men cho 30-50 m2 nền chuồng theo các bước sau: 

Bước 1: Rải đều lớp mùn cưa dày 15 cm lên nền chuồng ( nếu kết hợp dùng trấu thì đầu tiên rải 8 cm trấu, sau đó rải tiếp 7 cm mùn cưa ). 

Bước 2: Nếu mùn cưa khô, phun nước sạch đều lên trên lớp mùn cưa sao cho mùn cưa có độ ẩm 20% ( dùng tay bốc một nắm mùn cưa, quan sát thấy hạt mùn cưa bị thấm ẩm nhưng vẫn tơi rời là được). Thả vịt vào nuôi. 

Chú ý: phun nước phải như mưa và sau một lúc phải dùng tay xoa cho ẩm đều. 

Bước 3: Sau một thời gian (sau 3-7 ngày ) quan sát trên bề mặt chuồng khi nào thấy phân rải kín, ta dùng cào cán ngắn để cào sơ qua lớp mặt đệm lót ( lưu ý khi cào nên quây gọn vịt về từng phía một khi làm để tránh gây xáo trộn đàn vịt ) 

Bước 4: Rắc đều chế phẩm men đã được ủ sau 2 ngày lên toàn bộ bề mặt đệm lót. Sau đó dùng cào xoa trên mặt để men được phân tán đều khắp 

- Làm chế phẩm men như sau: Đem 1 kg chế phẩm sinh học Balasa-N01 trộn đều với 5 – 7 kg bột ngô hoặc cám gạo, cho thêm khoảng 2,5 – 3,2 lít nước sạch, xoa cho ẩm đều, sau đó cho vào túi hoặc thùng và để chỗ ấm ủ trong 2 ngày. 

III. VẤN ĐỀ SỬ DỤNG VÀ BẢO DƯỠNG ĐỆM LÓT LÊN MEN: 

Một đệm lót nền chuồng được xử lý tốt có thể kéo dài thời gian sử dụng từ 6 tháng đến một năm hoặc có thể dài hơn. Thời gian sử dụng phụ thuộc vào các yếu tố bảo dưỡng chúng 

- Phải chú ý làm tơi xốp bề mặt đệm lót lên men: cứ sau 1-2 ngày cào trên bề mặt đệm lót một lần để giúp cho đệm lót được tơi xốp, phân sẽ được phân hủy nhanh hơn. Thời gian dài ngắn tùy thuộc vào mặt đệm lót bị nén chặt hay không và lượng phân nhiều hay ít 

Trong quá trình cào trên bề mặt đệm lót không được cào sâu xuống sát nền chuồng 

- Nuôi trong vài tuần nếu có mùi hơi hăng hắc thì xới tơi đệm lót, để cửa thông thoáng, mùa nóng có thể dùng quạt gió. Trong trường hợp này vịt vẫn sinh trưởng tốt, khỏe mạnh 

- Để đệm lót lên men luôn luôn khô và tiêu hủy phân tốt thì có thể sau một thời gian cần phải bảo dưỡng 1 lần. Cách làm: sau khi xới tơi trên mặt đệm lót thì rắc chế phẩm men ( được chế như ở phần trên ) đều lên mặt. 

Khi bảo dưỡng lúc trong chuồng có vịt vào những ngày nóng, thường bố trí thời gian để làm vào buổi chiều mát sẽ đỡ ảnh hưởng đến vịt. 

- Tránh để bị nước mưa hắt làm ướt đệm lót lên men

- Khi nuôi vịt trên nền đệm lót lên men cần phải để ý khu vực máng uống, nếu thấy nước rớt làm ướt đệm lót thì phải thay ngay bằng lớp trấu mới. 

- Nuôi vịt cần chú ý không để vịt sau khi bơi ở ao hồ lên vào chuồng ngay. 

- Khi phát hiện độn lót có mùi của khí NH3 ( khai ) và thối nhẹ là tác dụng phân giải phân chưa tốt cần phải sử lý kịp thời. Tùy từng nguyên nhân: do đệm lót ướt quá; đệm lót bị nén không tơi xốp; men kém hoạt động… mà có cách xử lý phù hợp, nhưng chung nhất là phải làm khô, sới tơi đệm lót và sau đó bổ sung chế phẩm sinh học . 

- Chế độ nuôi dưỡng: Cần bổ sung men tiêu hóa trong thức ăn hoặc nước uống cho vịt hoặc dùng thức ăn lên men để chăn nuôi nhằm làm tăng năng lực tiêu hóa, giảm lượng phân thải ra. 

Chế Phẩm Balasa N01 Dùng Xử Lý Môi Trường Ô Nhiễm

CHẾ PHẨM BALASA N01 DÙNG XỬ LÝ MÔI TRƯỜNG Ô NHIỄM

1. Chuồng nuôi vịt, ngan...: Nếu nền chuồng bẩn có mùi hôi thì chỉ cần rắc bột BALASA N-01 đều lên mặt nền chuồng

2. Chuồng nuôi lợn: Nếu không làm đệm lót lên men thì có thể dùng chế phẩm BALASA N-01 để xử lý nền chuồng, nơi chứa phân, cống rãnh thoát nước thải để chống ô nhiễm.

3. Bể biogas, Bể phốt, cống rãnh: Dùng rất tốt trong thông tắc và xử lý bể phốt, cống rãnh; xử lý thông tắc bể biogas nhưng không làm mất gas

Liều dùng: 1 kg BALASA N01 dùng xử lý cho 10m3 hoặc 100m2 bề mặt

CHẾ PHẨM BALASA N01 DÙNG TRONG XỬ LÝ AO, HỒ

Dùng trong chuẩn bị ao nuôi, xử lý làm sạch đáy ao, kiểm soát chất lượng nước và khi ao hồ  

Liều sử dụng: 1 kg BALASA NO1 dùng cho 500 m2 diện tích ao hồ hoặc 900 – 1.000 m3 nước.

Cách dùng: Có thể sử dụng theo 2 cách:

1- Đem 1 kg chế phẩm BALASA NO1 trộn đều với 5 kg cám gạo hoặc bột ngô sau đó cho thêm 2,5 lít nước sạch, xoa cho ẩm đều sau đó cho vào túi hoặc thùng kín để ủ ở chỗ ấm trong 2 ngày, sau đó mới rắc đều lên toàn bộ đáy ao hay mặt nước. Mục đích của việc ủ lên men chế phẩm với bột để làm tăng lượng vi sinh vật, như vậy tác dụng xử lý sẽ nhanh và mạnh hơn

2- Đem 1 kg chế phẩm BALASA NO1 trộn đều với 5 kg cám gạo hoặc bột ngô, cho vào thùng, cho thêm trên dưới 100 lít nước sạch, khuấy đều sau đó đậy kín, để ủ ở chỗ ấm trong 2 ngày. Khi dùng chỉ cần tưới đều lên toàn bộ đáy ao hay mặt nước. Chú ý khuấy đều dịch men trong khi tưới.

Trong trường hợp đang nuôi, nước trong ao, hồ, đầm nhiễm bẩn, tôm cá bị bệnh nhiều sau khi dùng chế phẩm BALASA N-01 thì chỉ sau một thời gian tùy theo độ nhiễm bẩn của nước, nước không còn mùi hôi và sẽ trong sạch trở lại và tôm cá sẽ không bị mắc bệnh

Khi rắc chế phẩm tôm cá có ăn chế phẩm thì không hề có hại mà ngược lại có thể phòng trị tốt các bệnh truyền qua đường ruột.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More